Xe đang trả góp có được bán không?

1. Tư vấn về việc mua xe trả góp.

Hiện nay hình thức mua trả góp không còn là gì xa lạ trong các giao dịch mua bán ô tô, xe máy. Ưu điểm lớn nhất khi lựa chọn hình thức này là khách hàng vẫn có thể sở hữu xe cho dù vốn ban đầu không nhiều, thủ tục cho vay trả góp đơn giản, và thời gian trả góp linh hoạt. Tuy nhiên ngoài những ưu điểm nêu trên thì hình thức này cũng có những nhược điểm nhất định. Đặc biệt là vấn đề bán xe khi đang trong thời gian trả góp có được không? Đây là một trong những vấn đề được rất nhiều người quan tâm trong thời gian gần đây.

+ Hình thức mua xe trả chậm trả góp;

+ Giao dịch mua bán xe;

+ Trình tự thủ tục ;

2. Xe đang trả góp có được bán không?

Nội dung tư vấn: Chào luật sư. Cho em hỏi Bên A có mua một chiếc xe trả góp ngân hàng. Trong thời gian trả góp thì lại bán cho em. Em đã bỏ số tiền 23 triệu để chuộc xe từ một cửa hàng cầm đồ. Nhưng đã chủ quan không viết giấy tay. Hiện tại em có chứng cứ tin nhắn và video chuộc xe từ cửa hàng cầm đồ. Vậy cho em hỏi luật sư nếu như bên phía cửa hàng thu hồi xe. Thì em có thể khởi kiên phía bên A về lợi dụng chiếm đoạt tài sản không ạ? Mong giải đáp thắc mắc giùm em ạ

Trả lời tư vấn:

Căn cứ thông tin bạn cung cấp, bên A đang thực hiện giao dịch mua xe trả góp tại ngân hàng. Theo đó có thể xác định đây là hình thức mua trả chậm, trả dần theo quy định tại Điều 453 Bộ luật Dân sự 2015:

1. Các bên có thể thỏa thuận về việc bên mua trả chậm hoặc trả dần tiền mua trong một thời hạn sau khi nhận tài sản mua. Bên bán được bảo lưu quyền sở hữu đối với tài sản bán cho đến khi bên mua trả đủ tiền, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

2. Hợp đồng mua trả chậm hoặc trả dần phải được lập thành văn bản. Bên mua có quyền sử dụng tài sản mua trả chậm, trả dần và phải chịu rủi ro trong thời gian sử dụng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.”

Đối chiếu với quy định nêu trên bên bán được bảo lưu quyền sở hữu đối với chiếc xe, do đó có thể xảy ra hai trường hợp như sau:

Trường hợp 1: Bên bán và bên mua không có thỏa thuận chuyển giao quyền sở hữu cho bên mua.

Trong trường hợp này bên bán được xác định là chủ sở hữu đối với chiếc xe, vì vậy bên mua chỉ có quyền sử dụng mà không có quyền bán chiếc xe. Do đó nếu bên mua thực hiện giao dịch bán chiếc xe cho bạn thì giao dịch dân sự đó có thể bị tuyên vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật (do tài sản không đủ điều kiện chuyển nhượng) theo quy định tại Điều 123 Bộ luật Dân sự 2015:

“Điều 123. Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội

Giao dịch dân sự có mục đích, nội dung vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội thì vô hiệu.

Điều cấm của luật là những quy định của luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định.

Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng.”

Theo đó, khi giao dịch dân sự vô hiệu, các bên sẽ phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận theo quy định tại Điều 131 Bộ luật Dân sự 2015:

“Điều 131. Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu

1. Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập.

2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.

Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả.

Như vậy, khi giao dịch dân sự vô hiệu, bạn có thể được bên mua xe trả góp trả lại số tiền 23 triệu mà bạn đã bỏ ra chuộc xe, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

Còn đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thì cần phải xem xét hành vi của bên mua có dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản hay không? Nếu bên mua dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó thì bên mua có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017:

“Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

Trường hợp 2: Bên bán và bên mua có thỏa thuận chuyển giao quyền sở hữu cho bên mua thì bên mua có thể thực hiện các quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản theo quy định tại Điều 158 Bộ luật Dân sự 2015:

“Điều 158. Quyền sở hữu

Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của luật.”

Như vậy, theo quy định nêu trên, bên mua tài sản trả góp có quyền bán tài sản đó cho bạn. Tuy nhiên thông tin bạn cung cấp cho thấy giao dịch dân sự của bạn chưa được ghi nhận bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực theo quy định tại điểm g Khoản 1 Điều 10 Thông tư 15/2014/TT-BCA:

“Điều 10. Giấy tờ của xe

1. Chứng từ chuyển quyền sở hữu xe, gồm một trong các giấy tờ sau đây:

g) Giấy bán, cho, tặng xe của cá nhân phải có công chứng theo quy định của pháp luật về công chứng hoặc chứng thực của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn đối với chữ ký của người bán, cho, tặng xe theo quy định của pháp luật về chứng thực.

Trường hợp chủ xe là cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân, Quân đội nhân dân hoặc cá nhân nước ngoài làm việc trong cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự, cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế mà đăng ký xe theo địa chỉ của cơ quan, tổ chức, đơn vị công tác thì phải có xác nhận của cơ quan, tổ chức, đơn vị công tác.”

Vì vậy, có thể xác định đây là giao dịch dân sự không tuân thủ hình thức theo quy định quy định của pháp luật. Do đó, giao dịch dân sự này có thể bị tuyên vô hiệu theo quy định tại Điều 129 Bộ luật Dân sự 2015 như sau:

“Điều 129. Giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức

Giao dịch dân sự vi phạm quy định điều kiện có hiệu lực về hình thức thì vô hiệu, trừ trường hợp sau đây:

1. Giao dịch dân sự đã được xác lập theo quy định phải bằng văn bản nhưng văn bản không đúng quy định của luật mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó.

2. Giao dịch dân sự đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó. Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực.”

Tags:

Comments Are Closed

TOP ↑