Sinh viên kiến trúc với kiến trúc xanh

công trình xanh

Trào lưu và sự hưởng ứng KTS xanh tại Việt Nam

Kiến trúc xanh (KTX) đã thiết kế, trải nghiệm sự đã đa dạng của kiến trúc xanh từ những năm 90 của thế kỷ 20.

Và tại Việt Nam, những năm đầu của thế kỷ 21 bắt đầu được hưởng ứng. Các tác phẩm hướng đến công trình xanh, thích ứng với môi trường tự nhiên, tiết kiệm nhiên liệu, ứng biến với biến đổi khí hậu. Ban đầu với những giải thưởng dự án nhỏ, lan rộng những giải thưởng quốc tế. Khiến trào lưu này bức đầu bừng sáng.

Những giải thưởng như của Arcasia, FutureArc khiến KTS càng sáng tạo hơn. Thay vì áp rập khuôn mô hình của nước ngoài. Các KTS đã thích ứng tốt, áp dụng phù hợp với từng địa phương trong khuôn khổ xanh, bền vững, bảo vệ môi trường sống…

Truyền thông gây ảnh hưởng lớn

Bình chọn thường niên của Archdaily và sự PR của truyền thông làm tăng tính hấp dẫn, kể cả đồ án của sinh viên tham gia chương trình này.


Thống kê số lượng công trình kiến trúc Việt Nam đăng tải trên Archdaily

Điều này làm tăng cường nhận thức của cộng đồng về dự án, công trình xanh. Tạo ra sự lan tỏa tốt. Các sinh viên, KTS đã thích ứng tốt xu hướng này, tạo ra nhiều dự án hiệu quả kinh tế, đảm bảo tốt môi trường ”xanh”, dịch vụ ”xanh”, xu hướng ”xanh’‘.

Sự ngộ nhận của sinh viên về KTX

Chạy theo trào lưu, thiếu sự hiểu biết KTX

Chỉ cần gõ từ khóa KTX xanh trên Google, chúng ta dễ dàng tìm kiếm rất nhiều dự án về KTX xanh, tuy nhiên nếu kiến thức còn yếu, chưa rõ ràng thì rất dễ bị ngộ độc và nhầm lẫn dễ đến cách làm kiểu manh mún, chấp vá. Nhiều chủ đầu tư lồng ghép thuật ngữ Eco/Sinh thái, Green/Xanh nhằm PR sự khác biệt, để bán nhiều hàng hóa hơn, trong khi đó, các dự án đó rất phổ thông, rất bình thường.

Tư duy dễ dãi, lệch lạc trong ngộ nhận

Từ việc thiếu sự hiểu biết, dẫn đến các đồ án làm cho có, tạo cảm giác vui về thị giác.

Khi không rõ ràng bản chất của KTX, các nhà thiết kế đẽo gọt, làm cố tỏ ra hoa mỹ về sản phẩm của mình, đục chỗ này, thêm thắt chỗ kia, ứng dụng nào là tre, vật liệu sáng tạo, cây trên nóc nhà, phủ xanh đủ kiểu…

Bản chất của KTX và công trình xanh (CTX)

Từ những năm 1990-1995, Hội đồng Công trình xanh Mỹ (USGBC), đã ứng dụng tiêu chuẩn trong các công trình xanh vì CO2 của khí quyển, 1 nửa là các công trình xây dựng. Từ năm 1996 trở đi, khái niệm KTX được bổ sung vào, nhằm đòi hỏi dự án phải giảm xử lí chất thải, giảm áp lực cho môi trường, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên. Đơn giản là dự án phải thân thiện với môi trường, không làm phá vỡ cấu trúc của tự nhiên.

CTX hiệu quả, đầu tiên là năng lượng – giảm tiêu thụ năng lượng hóa thạch – được coi trọng hàng đầu, tiếp sau là việc bảo tồn / khôi phục hệ sinh thái, bảo vệ môi trường sống.

CTX cần những yêu cầu như sau:

+ Tạo môi trường sống vệ sinh, sức khỏe cho người dân, đặc biệt người dân đô thị.

+ Giảm tiêu thụ năng lượng nhờ sử dụng năng lượng tự nhiên, năng lượng tái tạo, phấn đấu giảm phát thải khí CO2 đến mức 90% so với trước đây, khi đó công trình được coi là vận hành “không carbon/carbon neutral”;

+ Thân thiện với thiên nhiên nhờ đó bảo vệ được hệ sinh thái, bảo vệ môi trường sống của con người; Bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt nguồn nước và vật liệu xây dựng;

+ Bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt nguồn nước và vật liệu xây dựng;

Đơn giản, nhiều dự án ứng dụng các tiêu chí như: Hệ thống BMS, kính Low-E, Pin mặt trời, đèn Led, hệ thống thu và xử lý nước thải tái sử dụng thì đạt được tiêu chuẩn CTX. Tuy nhiên đạt chuẩn CTX thì chưa chắc đạt được sự sáng tạo và không gian trong kiến trúc.

Công trình xanh nên hiểu rộng hơn như về môi trường, văn hóa, xã hội, cộng đồng, dân tộc, thẩm mỹ và công năng của công trình…

Một số tiêu chí, tiêu chuẩn đánh giá

BREEAM – BRE Environmental Assessment Method là bộ tiêu chuẩn đánh giá công trình xanh đầu tiên trên thế giới, tuy nhiên chỉ áp dụng ở Anh.

LEED: Leadership in Energy & Environmental Design là bộ tiêu chuẩn của Mỹ, được ban hành bởi USGBC-US Green Building Council. Đây có thể coi là bộ tiêu chuẩn phổ biến hiện nay.

Green Star được ban hành bởi GBCA – Green Building Council of Australia, tuy nhiên chỉ áp dụng ở Úc.

BCA Green Mark của Singapore với các tiêu chí đánh giá dành riêng cho khu vực khí hậu nhiệt đới.

Ngoài ra còn có các phiên bản tiêu chuẩn đánh giá công trình xanh khác của Nhật Bản, Malaysia, Ấn Độ…

EDGE – Exellence in Design for Greater Efficiencies, với các tiêu chuẩn EDGE đơn giản, dễ sử dụng.

Tại Việt Nam, sử dụng các tiêu chuẩn

Hệ thống đánh giá và xếp hạng công trình xanh LOTUS được ban hành bởi VGBC –Vietnam Green Building Council.

Các tiêu chí KTX theo Hội Kiến trúc sư Việt Nam bao gồm:

+ Địa điểm bền vững

+ Sử dụng tài nguyên năng lượng hiệu quả

+ Chất lượng môi trường trong nhà

+ Kiến trúc tiên tiến, bản sắc

+ Tính xã hội – nhân văn, bền vững.

Sự tương đồng và khác biệt giữa KTX với các trào lưu kiến trúc gần đây

Xã hội văn minh trên thế giới phát triển nhanh dẫn đến quá trình đô thị hóa cao, gia tăng các nhu cầu sử dụng năng lượng, gia tăng lượng xả thải… Đi kèm với đó là sự cạn kiệt nguồn tài nguyên, ô nhiễm môi trường, tăng nhiệt độ trái đất, biến đổi khí hậu phức tạp. Trước tình hình đó, cuối thế kỷ 20 các tổ chức môi trường thế giới đã có các động thái tích cực nhằm tác động đến tư duy nhân loại và hình thành cương lĩnh hoạt động phát triển bền vững trong mọi lĩnh vực. Từ những chiến lược vì sự phát triển bền vững, các nghị định thư, công ước… nhằm gìn giữ và bảo vệ môi trường đã có các trào lưu kiến trúc như:

+ Xu hướng kiến trúc sinh thái (Ecologic Architecture)

+ Xu hướng kiến trúc sinh – khí hậu (Bioclimatic Architecture)

+ Xu hướng kiến trúc hiệu quả năng lượng (Energy -Efficient Building)

+ Xu hướng kiến trúc bền vững (Sustainable Architecture)

+ Xu hướng KTX (Green Building, Green Architecture)

Mặc dù các xu hướng trên có các mục tiêu khác nhau nhưng chúng đều có sự liên quan với nhau. Tuy nhiên, một số xu hướng như: kiến trúc sinh thái, kiến trúc sinh – khí hậu, hiệu quả năng lượng chỉ tập trung về một vấn đề cụ thể; còn kiến trúc bền vững thì đáp ứng mục tiêu chiến lược và đề cập rộng nhưng lại khó định lượng. Vì vậy sau khi phong trào CTX xuất hiện, danh từ KTX (Green Architecture) cũng dần xuất hiện trong các ấn phẩm, như cuốn L’Architecture verte của James Wines (2000) hay Green Architecture – Advanced Technologies and Materials của Osman Attmann (2010). KTX dường như là cụ thể hóa mục tiêu của Kiến trúc bền vững qua những CTX. Khái niệm biểu tượng “Xanh” thay thế hoàn hảo cho khái niệm bền vững và ngày càng trở nên phổ biến hơn trên khắp thế giới. Ngay hai nhà thiết kế Osman Attmann và Ken Yeang cũng thống nhất quan điểm này.

Lợi ích của KTX

+ Về môi trường: Đây là lợi ích điển hình của KTX. KTX thúc đẩy và bảo vệ các hệ sinh thái và đa dạng sinh học, nâng cao chất lượng không khí và nước, giảm chất thải rắn và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên. Theo các chuyên gia của Hội đồng xanh thế giới, nếu so sánh với một công trình thương mại thông thường thì công trình xanh sẽ sử dụng ít hơn 26% ít năng lượng, chi phí bảo trì ít hơn 13% và lượng phát thải nhà kính ít hơn 33%.

+ Về kinh tế: Có rất nhiều lợi ích kinh tế từ KTX, bao gồm giảm chi phí trong quá trình vận hành công trình như: Chi phí điện, nước, rác thải… và khả năng thu hồi vốn tiền đầu tư xây dựng cũng nhanh hơn. Điều này là vấn đề quan tâm lớn của chủ đầu tư và người sử dụng.

+ Về xã hội: Lợi ích xã hội của KTX ngày càng thể hiện rõ rệt. Kiến trúc xanh sẽ tạo môi trường thân thiện cho người sử dụng ở nhiều khía cạnh, bao gồm chất lượng không khí trong nhà tốt hơn, tối ưu hóa sự thoải mái mọi công năng trong công trình.

Lồng ghép KTX vào giảng dạy cho SV kiến trúc

Hình 2: Tỷ lệ vật liệu sử dụng trong xây dựng – Nguồn IFC

Môi trường xây dựng đóng một vai trò quan trọng trong việc làm thay đổi khí hậu, do mức tiêu thụ 40% vật liệu tự nhiên trong nền kinh tế toàn cầu, tiêu thụ năng lượng vận hành lớn và lượng khí thải carbon… Tuy nhiên, người thiết kế không chỉ đơn thuần chú ý đến vấn đề năng lượng mà còn cần quan tâm đến các điều kiện đặc thù của từng khu vực, vị trí địa lý để áp dụng những giải pháp xanh, những công nghệ xanh phù hợp với điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội. Muốn KTX thực sự đi vào thực tế rất cần quan tâm đến bản sắc văn hóa địa phương để có các chiến lược, giải pháp quy hoạch kiến trúc phù hợp với từng vùng miền. Đáp ứng được các yếu tố văn hóa, tập quán sinh hoạt truyền thống, nhu cầu thiết thực đời sống chính là cơ sở để có được sự đồng thuận của cộng đồng, hướng tới việc người dân tự nguyện tham gia vào việc gìn giữ môi trường và lan tỏa các giải pháp KTX. Đối với Việt Nam, tỷ lệ dân cư khu vực nông thôn lớn, các giải pháp thiết kế cũng cần phù hợp với khả năng thu nhập của người dân, việc xây dựng cần đơn giản, phát huy tối đa các nguồn lực tại chỗ, sử dụng các vật liệu địa phương, dễ vận hành, thuận tiện sử dụng…

KTX là phương pháp thiết kế để tạo ra công trình xanh (từ các khâu thiết kế, xây dựng, vận hành, bảo dưỡng và phá dỡ) để giảm thiểu tác động tới môi trường và đạt hiệu quả sử dụng tài nguyên trong suốt vòng đời của công trình. Để tạo ra các công trình xanh, ngoài các giải pháp KTX, cũng cần sự đóng góp rất nhiều của các giải pháp kỹ thuật tiết kiệm năng lượng cho các hệ thống như: Điều hòa không khí, chiếu sáng, sử dụng nước…

Hình 3: Sử dụng năng lượng theo vòng đời công trình – Nguồn: IFC

Để SV kiến trúc có thể thực sự thiết kế các công trình đáp ứng tiêu chí KTX cần bổ sung thêm những kiến thức mới, cách công trình ứng xử với khí hậu và môi trường, biết ứng dụng sáng tạo những kết quả nghiên cứu, KHCN tiên tiến nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng. Đối với bậc đào tạo đại học các yêu cầu nhận thức về KTX chỉ dừng lại ở việc biết và nắm được các nguyên tắc cơ bản để vận dụng vào trong các đồ án thiết kế kiến trúc. Những kiến thức kỹ năng chuyên sâu, có tính đặc thù sẽ được nâng cao hơn trong các bước đào tạo và hành nghề tiếp theo. Yêu cầu cơ bản nhận thức đối với sản phẩm đào tạo được hình dung như sau:

+ Hiểu biết cơ sở về Sinh thái học: Giúp người thiết kế hiểu được quan hệ gắn bó giữa kiến trúc với các môn khoa học về cuộc sống;

+ Hiểu biết về môi trường và BĐKH, nhận thức được những hiểm họa, những nguy cơ rủi ro và những vấn đề đang nghiên cứu sự thích ứng;

Các nội dung lĩnh vực kiến trúc có liên quan đến KTX;

Khả năng thực hành lồng ghép KTX vào trong thiết kế kiến trúc, phù hợp với xu hướng kiến trúc trên thế giới và điều kiện Việt Nam;

Ứng dụng các giải pháp KHCN xây dựng về xử lý không gian, công nghệ – kỹ thuật, lựa chọn vật liệu, thiết bị… sử dụng, vận hành trong công trình.

Các giải pháp thiết kế

Hình 4: Các yếu tố ảnh hưởng đến thiết kế công trình – Nguồn: IFC

Để xây dựng các công trình xanh theo xu hướng KTX, người thiết kế thường sử dụng 2 giải pháp thiết kế chính là:

– Giải pháp thiết kế thụ động: Thực hiện bằng các giải pháp quy hoạch, kiến trúc, vật liệu… KTX để tiết kiệm năng lượng thì thường cần thiên về các giải pháp này như:

+ Sử dụng cấy xanh trên mái và mặt tiền.

+ Kiến trúc 2 lớp vỏ.

+ Sử dụng vật liệu nhẹ, tái chế, dễ di chuyển.

+ Không gian mở, liên thông.

+ Vật liệu thô mộc.

+ Hạn chế tiêu thụ năng lượng.

– Giải pháp thiết kế chủ động: Thực hiện bằng sử dụng các thiết bị, công nghệ hiện đại…Các giải pháp này liên quan đến các trang thiết bị kỹ thuật công trình, điều này KTS cần phối hợp với các kỹ sư công nghệ để lựa chọn các giải pháp phù hợp áp dụng trong công trình như:

+ Thiết bị ĐHKK làm mát/sưởi cho công trình

+ Thiết bị chiếu sáng tiết kiệm năng lượng, cảm biến tắt bật đèn, đèn Led…

+ Thiết bị sử dụng nước tiết kiệm, xử lý nước thải, thu hồi nước mưa..

Các công nghệ thiết bị tiên tiến khác…

– Ứng dụng các công nghệ phần mềm để kiểm chứng

Như đã nêu ở trên, để đánh công trình xanh thì có rất nhiều tiêu chí. Tuy nhiên để phù hợp với SV kiến trúc và dễ sử dụng trong kiểm tra đánh giá giải pháp thiết kế thì có thể sử dụng hệ thống tiêu chuẩn mở của EDGE để đánh giá hiệu quả:

+ Đánh giá nhất quán về hiệu suất công trình;

+ So sánh với trường hợp cơ sở tại địa phương;

+ Phù hợp với các ưu tiên của quốc gia và quốc tế;

Hỗ trợ thiết kế công trình xanh hơn dựa trên dữ liệu bối cảnh và địa phương;

Là cơ sở mạnh mẽ để các nhà chuyên môn đo lường và cải tiến danh mục thiết kế.

Hình 5: Sơ đồ đánh giá công trình theo tiêu chí EDGE

Tuy hệ tiêu chuẩn này cũng chưa hoàn toàn đáp ứng các yêu cầu sáng tạo của KTS nhưng sử dụng đơn giản và cũng đặt ra mục tiêu rõ ràng và yêu cầu một công trình phải giảm được tối thiểu 20% nhu cầu tiêu thụ của mỗi loại: năng lượng, nước và năng lượng hàm chứa trong, vật liệu.

Tài liệu tham khảo:
1. Phạm Đức Nguyên. Công trình xanh & các giải pháp kiến trúc thiết kế công trình xanh. NXB Trí thức. 2014
2. Phạm Đức Nguyên. Trao đổi về đào tạo kiến trúc xanh ở Việt Nam: Người thiết kế kiến trúc cần trang bị những kiến thức gì?. Tạp chí kiến trúc. 2017
3. Building green cities by Singapore Management University JULY 6, 2018
4. Nguyễn Minh Đức, luận văn thạc sỹ kiến trúc công trình “Sự phát triển của trào lưu kiến trúc xanh Việt Nam dưới tác động của truyền thông”, Đại học Kiến Trúc Hà Nội, 2019.
5. Tài liệu giảng dạy khóa học “Thiết kế theo Kiến trúc sinh khí hậu và Tài nguyên hiệu quả” của IFC, 2019.

6. TS.KTS Vương Hải Long, Trưởng khoa kiến trúc, Đh kiến trúc Hà Nội

Nguồn tham khảo:
https://www.tapchikientruc.com.vn/dao-tao/kien-truc-xanh-voi-sinh-vien-kien-truc.html


Tags: , , , , , , , , , , , , , , , , ,

Comments Are Closed

TOP ↑